tây thiên, Tứ đại Động Tâm, Tứ động tâm, Tứ thánh tích, Ấn Độ, Nepal, Núi Kê Túc, Taj Mahal, Bồ đề đạo tràng, Lâm Tì Ni, Sá nạt, Vườn lộc Uyển, Tháp đại giác, Việt Nam Phật Quốc Tự, Tây tạng, Lhasa, trà bơ, Cung Điện Bu Đa La, Văn Thành công chúa, Đức Đạt Lai Đạt Ma, Chùa Đại Chiêu , Chùa Xương Châu, Tứ đại Động Tâm, Yanggon, Mandalay, Bagan, ấn độ - nepan, hành hương ấn độ, tứ thánh địa, sri lanka, du lich tam linh, Phật Tích Lan, colombo, chùa răng Phật, xá lợi răng Phật, chùa đền vàng

Hỗ trợ trực tuyến
  • Tuyến Ấn Độ - Nepal Ms. Huyền 0931708818
  • Tuyến Tây Tạng, T.quốc - Ms. Nga 0931718828
  • Tuyến Quốc tế khác - Ms. Thảo 04.22466110
  • Du lịch Vietnam - Ms.Khánh Huyền 04.22466114
  • Phone tư vấn 093.170.8818- 093.171.8828
  • Emailsales@lantours.vn
Video

Fanpage facebook
Bình luận mới nhất
    Chưa có bình luận mới
Lượt truy cập
  • Hôm nay 125
  • Tổng lượt truy cập 494,186
Hành hương tứ động tâm
Hành hương tứ động tâm Tổ đình Linh Quang

Phật giáo Tây Thiên - Tam Đảo

Phật giáo Tây Thiên – Tam Đảo
29/02/2012

Trước khi tìm hiểu về Phật giáo Tây Thiên, chúng ta nên hiểu biết qua về vị trí  của khu Di Tích Danh Thắng Tây Thiên,

- Về vị trí - khu di tích danh thắng Tây Thiên nằm trên sườn núi Tây Bắc của Tam Đảo, có tọa độ 21độ28’ vĩ độ bắc, 105 độ37’ kinh độ đông. cách thành phố Hà Nội 80 km về phía Tây Bắc.Tam Đảo là một huyện mới được thành lập từ ngày 01.01.2004, nó gồm các xã: Bồ Lý, Yên Dương, Đạo Trù (trước đây thuộc huyện Lập Thạch), Tam Quan, Hồ Sơn, Hợp Châu (trước thuộc huyện Tam Dương) và Minh Quang (trước thuộc huyện Bình Xuyên). Ngày nay thị trấnTam Đảo trực thuộc thành phố Vĩnh Yên.

Tam Đảo là dãy núi dài hơn 80km, rộng từ 30km đến 40km là ranh giới thiên nhiên giữa tỉnh Vĩnh Phúc với hai tỉnh Thái Nguyên và Tuyên Quang. Dãy Tam Đảo thuộc phần đất tỉnh Vĩnh Phúc dài 30 km, bắt đầu từ xã Đạo Trù tới xã Lan Đình, Sơn Đình, Tam Quan (các xã này trước đây thuộc huyện Lập Thạch và Tam Dương).

Tại sao huyện Tam Đảo là vùng đất có nhiều núi đồi thấp rải rác trên những cánh đồng, thuộc vùng trung du Bắc bộ, lại có tên là Tam Đảo?

-Trong dãy núi Tam Đảo, có 3 ngọn núi cao, vào những ngày có mây, có hôm mây trắng phủ kín từ chân đến lưng chừng núi, chỉ còn nhô lên 3 đỉnh núi cao, xanh thẩm, trông như 3 hòn đảo nằm bềnh bồng trên biển mây. Ba ngọn núi đó là: Phù Nghì (Phù Nghĩa), Thạch Bàn và Thiên Thị.

- Hệ thống Chùa ở Tây Thiên - Tây Thiên với hệ thống chùa chiền dầy đặc, trên một diện tích nhỏ của khu di tích Danh thắng Tây Thiên, tự nó đã nói lên Tây Thiên là Trung Tâm Phật giáo đầu tiên của dân tộc Đại Việt (từ TK.2.TCN –TK.6.SCN) . Hiện nay nhân dân cùng các nhà khảo cổ đã phát hiện nền của nhiều ngôi chùa cổ và đang được nhân dân địa phương từng bước khôi phục tôn tạo lại như: Chùa Cả (cạnh đền Cả xã Tam Quan), chùa Thiên Ân (lưng chừng núi nằm phía sau đền Thỏng) vừa được trùng tu tôn tạo lại thành Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên,  chùa Ngò (cạnh đền Sơn Đình), chùa Chi Vố (vừa đặt viên đá trùng tu tôn tạo thành Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên Ni trong tương lai), chùa Phù Nghì, chùa Lũng Sâu, chùa Chân Tiên, chùa Bùa, chùa Đồ, chùa Dốc Gạo, chùa Đồng Cổ, chùa Tây Trúc (thuộc địa phận Thái Nguyên), chùa Suối Đùm, chùa Giao Sơn Tự (thuộc xã Bồ Lý), chùa Nhân Lý…

- Sự hình thành và phát triển của Phật giáo ở Tây Thiên - Qua các sử liệu trong và ngoài nước như:

- Đại Sử Ký ( Mahavamsa) của Tích Lan, cho biết sau khi kết tập kinh điển lần thứ 3, vua A Dục và Đại Lão Hoà thượng Moggaliputta-Tissa đã tích cực cử  9 đoàn đi hoằng dương Phật pháp. Các đoàn “Như Lai Sứ giả” đi khắp lãnh thổ Ấn Độ và đến các nước bên ngoài Ấn Độ để hoằng dương Phật pháp. Đoàn thứ 8 do Ngài Sona và Uttara đến vùng Kim Địa (Miến Điện), các nước Đông dương, trong đó có Việt Nam.

-Giao Châu Ký của Lưu Hân Kỳ và Thuỷ Kinh Chú của Lệ Đạo Nguyên viết vào TK 4 SCN, cho biết ở huyện Đinh An có thành Nê Lê và tháp vua A Dục (“Thành Nê Lê ở phía Nam huyện Định An, cách sông bảy dặm, tháp và giảng đường do vua A Dục dựng vẫn còn. Những người đốn hái củi gọi là kim tượng”)

Câu chuyện Nhất Đầm Dạ Trạch (sách Lĩnh Nam Trích Quái) đã cho biết Chử Đồng Tử , chồng của công chúa Tiên Dung (con gái vua Hùng thứ 3) là Phật tử đầu tiên của nước ta và là đệ tử của nhà sư Phật Quang.

- Ngọc phả Hùng Vương cho biết “Có lần vua Hùng Vương thứ 7 là Chiêu Vương lên núi Tam Đảo cầu Tiên thì nghiễm nhiên đã thấy có chùa thờ Phật”.

- Theo các tài liệu cổ, vào thời Hùng Vương (?) nước ta có 3 ngôi chùa: Thiên Ân Thiền Tự, Thiên Quang Thiền Tự và Hoa Long Thiền Tự

Qua các nguồn sử liệu đã nêu, chúng ta có thể kết luận: Phật giáo truyền vào nước ta vào thời vua Hùng Vương. Vào thời này ngôn ngữ tiếng Việt còn nghèo nên chưa biết gọi chùa là TỰ, vì nhà dân làm bằng “mái tranh vách đất”, thấy chùa xây bằng đá giống thành quách nên gọi là thành, còn từ Naraka cũng chưa có từ để dịch là Địa ngục, nên dịch âm là Nê-Lê, đến khi người Hán sang cai trị nhân dân ta mới dịch “Thành Nê Lê” là “Địa Ngục Tự”. Lê Quí Đôn đã mô tả cảnh trí chùa “Địa Ngục Tự”, ở trên núi Thạch Bàn, trong Kiến Văn Tiểu Lục. Xét danh bạ các chùa ở phía Bắc, chúng ta không thấy có chùa nào có tên là “Địa Ngục Tự”. Từ đó trong một chừng mực nào đó, chúng ta có thể nói: Phật giáo truyền vào nước ta dưới thời Hùng Vương tại Tây Thiên Tam Đảo và thành Nê-Lê chính là chùa “Địa Ngục Tự” ở trên núi Thạch Bàn, hay nói khác đi Tây Thiên là chiếc nôi của Phật giáo Việt Nam.


- Về đường lối tu hành -Các nhà sư người Ấn đầu tiên được phái đến nước ta hẳn là các vị cao tăng. Vào thời này các tu sĩ Ấn Độ thường tu Thiền theo kinh An Ban Thủ Ý, là pháp Thiền (Thiền Nguyên Thuỷ) đã có từ thời Đức Phật. Nên ngay từ buổi đầu Tây Thiên đã tu theo Thiền An Ban Thủ Ý. Qua sự việc Tổ Khương Tăng Hội (cha người Ấn mẹ người Việt) hành đạo ở Trung Tâm Luy Lâu đến năm 247 SCN sang Trung Quốc xây chùa Kiến Sơ tại nước Kiến Nghiệp (Nam Kinh ngày nay) thuộc nước Ngô (Ngô Tôn Quyền, thời Tam Quốc), đã dịch kinh An Ban Thủ Ý để dạy cho tu sĩ và Phật tử tu Thiền… nên chúng ta có thể nói từ TK.2 – TK.6, Phật giáo ở Tây Thiên tu Thiền (Thiền Nguyên Thuỷ), nên cả 3 ngôi chùa cổ, sử sách còn lưu lại đều có tên là THIỀN TỰ.

Mãi đến thế kỷ thứ 6 Thiền sư Tỳ-Ni-Đa-Lưu-Chi (?-594) đệ tử của Tam Tổ Tăng Xán, Ngài sang Việt Nam năm 580, trụ trì chùa Pháp Vân (huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) kể từ đó Thiền tông Trung Hoa mới bắt đầu truyền vào nước ta. Tiếp theo Thiền sư Vô Ngôn Thông (?-826) đệ tử của Tổ Bá Trượng Hoài Hải, sang Việt Nam năm 820 ở chùa Kiến Sơ (thuộc làng Phù Đổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh) và năm 1069 thiền sư Thảo Đường đệ tử của Thiền sư Trùng Hiển ở Tuyết Đậu (người Trung Hoa), khi Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành bắt được vua Chế Củ và một số tù binh. Sau đó được vị Tăng lục phát hiện Ngài là bậc chân tu trong nhóm tù binh, vua Lý Thánh Tông đòi Ngài vào triều, đem kinh luật và Thiền hỏi, Ngài đều ứng đáp lanh lẹ và chính xác. Vua rất kính phục, truy nguyên ra biết được tông tích của Sư… Từ đó Thiền phái Thảo Đường bắt đầu phát triển trên đất nước ta. Cả 3 phái Thiền từ Trung Hoa truyền sang phát triển mạnh, vào thời cực thịnh của Trung Tâm Luy Lâu (TK 6 –TK 13 SCN). Luy Lâu trở thành Trung tâm Phật giáo thứ II. Thời kỳ này tu sĩ trong nước tu theo một trong ba phái Thiền của Trung Hoa, nên Phật giáo ở Tây Thiên tất yếu cũng tu theo Thiền Tông Trung Hoa,

Khi Thiền sư Hiện Quang (?-1221), dòng Thiền Vô Ngôn Thông, lên Yên Tử tu xây chùa Vân Yên (Hoa Yên ngày nay) từ đó Yên Tử có cao tăng tu hành. Năm 1236 vua Trần Thái Tông bị Trần Thủ Độ ép duyên, Ngài bỏ ngai vàng lên Yên Tử, tìm nơi ẩn tu, vua đã gặp Thiền sư Viên Chứng (còn gọi Quốc sư Trúc Lâm) thì mạch nguồn Thiền tông bắt đầu khơi nguồn ở Yên Tử. Tiếp nối là Quốc sư Đại Đăng (thầy của vua Trần Thánh Tông), Thiền sư Tiêu Dao thầy của Tuệ Trung Thượng Sĩ và Thiền sư Huệ Tuệ (thầy bổn sư của vua Trần Nhân Tông)… Đến năm 1299 khi vua Trần Nhân Tông lên núi Yên Tử tu hành ngộ đạo, Ngài dung hợp ba Thiền phái đang có mặt trên đất nước Việt Nam tạo thành dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử, mang bản sắc văn hoá của dân tộc Đại Việt. Dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử bắt đầu phát triển chảy mạnh khắp các nơi trong nước. Chư Tăng các nơi vân tập về Yên Tử tu hành:

Dù ai dốc chí tu hành,

Chưa lên Yên Tử, chưa thành quả tu.

Từ đó Yên Tử trở thành Trung Tâm Phật giáo thứ III của Việt Nam ở thế kỷ 13.  Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã đi khắp nơi trong nước dẹp bỏ những dâm từ (những nơi tu theo tà pháp), dạy dân tu Thập Thiện, còn tu sĩ thì tu theo Thiền phái Trúc Lâm. Do vậy, vào thời kỳ này Phật giáo ở Tây Thiên ắt tu theo Thiền phái của dân tộc đang cực thịnh thời bấy giờ, đó là Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

- Phật giáo ở Tây Thiên ngày nay -Trong cuộc sống, giữa mộng và thực đôi lúc khó phân biệt đâu là hư đâu là thực. Như câu chuyện cụ Vũ Văn Kỳ (người chấp tác hương đèn ở đền Thượng và chùa Tây Thiên Cổ Tự) đã nói với huynh đệ chúng tôi nhân chuyến đi tham quan Tây Thiên. Trong một đêm nọ cụ nằm mơ thấy có một vị Tăng đến bảo: “ngày mai cụ ra núi sau chùa đào đất lên để tìm bia rồi xây tháp thờ thì sẽ có thiền sư đến trùng hưng lại chốn Tổ, nếu không thì Thiền sư không đến đâu!” Hôm sau ra nơi chỉ dạy trong mộng, cụ cúng vái rồi xin quẻ âm dương, sau đó đào đất xuống độ sâu hơn 1 mét thì bắt gặp tấm bia bằng đá núi đục khắc 4 chữ Hán là Cúc Khê Thiền Sư, tiếp tục đào sâu và rộng ra thì gặp bia Võng Sơn Thiền sư (cũng bằng đá núi), tấm bia thứ ba thì ghi Giác Linh Ngã. Sau đó Sở Văn Hoá Thông Tin Vĩnh Phúc về xây 3 tháp thờ 3 tấm bia tại vị trí đào gặp. Hai năm sau phái đoàn đại diện các cơ quan chức năng của tỉnh Vĩnh Phúc vào tham quan Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt rồi thỉnh Hoà Thượng Thiền sư Thích Thanh Từ ra xây dựng Thiền viện ở Tây Thiên.

Hoà Thượng ân sư dạy chúng tôi ra Bắc đến khu Di Tích Danh Thắng Tây Thiên tìm nơi xây Thiền viện. Chúng tôi đi khảo sát chùa Phù Nghì thì thấy chùa ở vị trí quá cao và đường vận chuyển quá xa, nên khó mà xây dựng qui mô. Sau khi đi tìm kiếm nhiều nơi khác, cuối cùng chúng tôi chọn vị trí trên đường lên Thiền viện Trúc L:âm Tây Thiên (TVTLTT) hiện nay. Chỗ này dốc không cao lắm lại có mặt bằng nên dễ thi công. Khi về thưa lại với Hoà thượng, Hoà thượng dạy “mình khôi phục lại di tích thì phải xây trên nền chùa cũ…”. Chúng tôi lại phải vạch lau sậy, phác dọn gai gốc mở đường khảo sát tiếp, sau cùng không ngờ bắt gặp nền chùa “Thiên Ân Thiền Tự”. Thế là TVTLTT xây trên nền chùa “Thiên Ân Thiền Tự”. Có phải chăng đây là “ý Tổ sư” và đã được báo mộng trước, để Thiền phái Trúc Lâm về trùng tu tôn tạo, khôi phục pháp Thiền cho chốn Tổ Tây Thiên. Một sự trùng hợp để giải thích thêm cho nhân duyên này là các bia đá tìm được đều có chữ THIỀN SƯ và Thiền sư Thanh Từ là người trùng tu lại chốn Tổ Tây Thiên. Do ngẫu nhiên hay cũng là nhân duyên tiền định, mà TVTLTT lại xây trên nền chùa có tên THIỀN TỰ (Thiên Ân Thiền Tự)? Có phải chăng Thiền phái Trúc Lâm có nhân duyên với Tây Thiên? Về đây để làm sống lại tinh thần Phật giáo đời Trần cho chốn Tổ Tây Thiên?

Câu trả lời chính xác cho các vấn đề nêu trên vẫn là câu hãy chờ xem thực tế, -thời gian sẽ trả lời, khi TVTLTT đi vào hoạt động và ảnh hưởng của nó đối với quần chúng nhân dân.

Sau ngày khánh thành, TVTLTT đã trở thành điểm đến chẳng những của khách hành hương tham quan trong và ngoài nước mà các chính khách, học giả cũng tìm đếầthm quan để tìm hiểu: Phật pháp, tinh thần Thiền Tông đời Trần và con đường tu theo đạo Phật. Từ đó TVTLTT đã trở thành một nơi tham quan nghiên cứu và tu tập Thiền, dành cho những ai có duyên với Thiền phái Trúc Lâm.

Mùa an cư năm qua có 60 hành giả, mùa an cư năm nay đã tăng lên 110 vị. Các hành giả từ các chùa Tịnh độ về đây an cư tu học. Với thời khoá tu học và hành thiền miên mật sáng chiều tối, hành giả tập xoay trở về sống với nội tâm an tịnh, giải thoát… Khi nếm được pháp lạc nhiều vị đã phát biểu “con đã tu mười mấy gần hai mươi năm mà chưa bao giờ tâm được nhẹ nhàng an tịnh, hạnh phúc như thế này”, có người nói “con đã học xong lớp trung cấp, cao cấp rồi mà những vấn đề quí Thầy dạy, thực hành, có những điều con chưa được nghe và trãi nghiệm…”

Ngoài Tăng Ni ra, hằng tháng còn có đoàn thanh niên chí nguyện quốc tế của các nước được tổ chức của cơ quan chức năng giới thiệu đến TVTLTT để tìm hiểu và học Thiền Trúc Lâm Yên Tử. Các cô chú người nước ngoài rất chịu khó tập ngồi thiền và tìm hiểu Phật pháp, những vấn đề liên quan đến sống, như qui luật vận hành của vũ trụ, lý “Nhân Duyên Sinh Vô Ngã”, luật nhân quả của đạo Phật, sự luân hồi và tái sinh, gốc của sự tu hành theo đạo Phật… được đem ra trao đổi. Đây là những vấn đề mà chưa có một tôn giáo nào có lời giải đáp thoả đáng, hợp với chân lý, ngoại trừ giáo lý nhà Phật… Từ đó Thiền viện trở thành điểm đến của các nhà chính khách, trí thức, thanh niên Phật tử, nói chung những ai có duyên với chốn Tổ Tây Thiên, với Thiền phái Trúc Lâm muốn tìm hiểu và tu học Thiền.

Niềm hạnh phúc thể hiện rõ nét trên gương mặt an tịnh của các hành giả đến tu tập, khiến chúng tôi thêm phấn khởi, vì TVTLTT đã không cô phụ chư vị Tổ sư tiền bối, cũng như “tâm lão bà” của HT Thích Thanh Từ  và của chư Tôn đức trong Giáo Hội PGVN đã trực tiếp hoặc gián tiếp trợ duyên cho TVTLTT làm được Phật sự này trong tinh thần vì Đạo pháp và chúng sinh.

TVTLTT trùng tu tôn tạo lại chốn Tổ sau bao năm hoang phế, đã đem lại sức sống cho khu Di tích Danh Thắng Tây Thiên, đã gợi bao nguồn cảm hứng, tạo tiền đề cho bao ca khúc: Tây Thiên bừng tỉnh, Tây Thiên Vào Hạ, Lá Cọ Tây Thiên, Nắng Mưa Tây Thiên, Hương Rừng Tây Thiên, Đêm Tây Thiên, Rạng Rỡ Đất Trời Tây Thiên, Đỉnh Biếc Tây Thiên, Trời Tây Tỉnh Lặng, Suối nguồn Tây Thiên… Thật vậy, “Tây Thiên đã bừng tỉnh sau giấc ngủ dài” với đoàn chư Tăng tỉnh giác, y vàng rực rỡ ngày ngày ôm bát khất thực, âm thầm từng bước chính niệm, tỉnh thức đi từ Tăng đường đến trai đường giữa rừng thông yên tĩnh, theo sau đoàn ni chúng áo lam là đoàn Phật tử tập tu, cũng ôm bát âm thầm từng bước khất thực để sống lại với tâm tư và hình ảnh Đức Phật ngày xưa khi ôm bát đi khất thực, rồi tập ăn uống chính niệm tỉnh giác như Phật. Hạnh phúc đời tu là ở những giây phút này, tuy bình thường giản dị nhưng trong kiếp người có mấy ai đủ duyên hưởng được hạnh phúc giải thoát này.

Để đáp ứng nhu cầu tu học của tăng Ni và Phật tử đến xin tu tập ngày càng đông, TVTLTT đang xây dựng thêm giảng đường và nhà ăn để có thể phục vụ cho 1000 người đến tu học. Nếu đủ duyên tượng Phật (Việt Nam Hộ Quốc Phật Đài) cao 49 mét, -là công trình của TVTLTT với các sĩ phu Bắc Hà (gồm các vị giáo sư Tiến sĩ, các phó Giáo  sư, các nhà khoa học, công nghệ, mỹ thuật điêu khắc, doanh nghiệp…), với tâm nguyện muốn cống hiến cho Phật giáo nói riêng và đất nước nói chung một công trình văn hoá mỹ thuật tâm linh, mang dấu ấn của Phật tử ở thiên niên kỷ mới này. Qua đó biểu lộ tấm lòng thành kính, biết ơn Đức “Từ phụ” Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni, đã đồng hành cùng dân tộc, dạy dân sống đời đạo đức, tin sâu nhân quả, nhờ đó mà thoát khỏi hoạ diệt vong sau bao lần bị ngoại bang cai trị cả nghìn năm, thế mà vẫn tồn tại phát triển cho đến ngày hôm nay. –Thật kỳ diệu! Điều mà chưa có một dân tộc bị đô hộ cả nghìn năm mà thoát khỏi hoạ diệt vong. Phật đài sẽ trợ duyên lành cho Phật tử hành hương về chốn Tổ Tây Thiên, lễ Phật với tâm lành hướng thiện, nguyện cầu cho “quốc thái dân an”. Nhờ nhân lành này mà đất nước sẽ được quả phúc thanh bình, cường thịnh vươn lên cùng thế giới.

Nếu một nghìn năm Thăng Long trước, Phật giáo đã để lại cho dân tộc một công trình kiến trúc độc đáo –“chùa Một Cột” đã trở thành biểu trưng của quốc gia, thì một nghìn năm sau Phật giáo Tây Thiên đang cố gắng để lại cho thế hệ mai sau một công trình kiến trúc Phật đài, với sự đóng góp trí tuệ của các nhà trí thức đương đại, và tịnh tài, tịnh vật của những người con Phật gần xa có duyên với Phật đài. Phật đài sẽ nhắc nhỡ mọi người “Phật tại Tâm” (tâm thanh tịnh mà thường biết rõ ràng đó là tâm Phật). Trong bài Cư Trần Lạc Đạo Phú, Hội thứ 5, Phật Hoàng Trần Nhân Tông đã dạy:

“Nhân khuây bản nên ta tìm Bụt,

Đến biết hay Bụt chính là ta”.

Cách nay hơn 700 năm, Tổ tiên chúng ta tu đã biết Phật tại tâm, thế mà hôm nay con cháu của Ngài sống ở thời đại khoa học kỷ thuật, văn minh tiến bộ hơn thời Ngài biết bao, vậy mà vẫn còn chạy đi tìm cầu lễ Phật bên ngoài. Tư tưởng Phật tại tâm, người tu phải xoay lại chuyển hoá tâm mình có đáng để chúng ta hành trì không? Hay là tìm cầu hướng ngoại? Hãy nghe Ngài nói về cõi Tây Phương cực Lạc và Đức Phật A Di Đà:

“Tịnh Độ là lòng trong sạch,

Chớ còn đòi hỏi đến Tây Phương

Di Đà là tánh sáng soi,

Mựa phải nhọc tìm về Cực lạc.”

Đó là tinh thần của thiền phái Trúc Lâm, cũng là tư tưởng của ông cha ta, sau khi tu hành đắc đạo, đã thấy được lẽ thật, đã rõ đường tu, nên dạy cho Tăng Ni và con cháu mai sau “Phật tức tâm, tâm tức Phật”. Do vậy, Phật tử đến lễ Phật đài là để soi rọi lại tâm mình, noi gương Phật, tu hành chuyển hoá nội tâm từ MÊ đến GIÁC, để đi đến quả vị Phật như Ngài, chứ không phải để cúng kính cầu xin. Đây là đường lối tu của Thiền phái Trúc Lâm hôm nay, với tinh thần này thì ai tu cũng được, cư sĩ tại gia tu vẫn ngộ đạo và đắc quả như người xuất gia. Tinh thần “hoà quang đồng trần” của Thiền phái Trúc Lâm, đến nay thật cần thiết để xây dựng một đời sống đạo đức, cho một xã hội mới, ở thời đại khoa học kỷ thuật thông tin ngày nay, trên tinh thần tự lực tự cường, đó là tinh yếu của đạo Phật và cũng là tinh thần khế lý khế cơ của đạo Phật ngày nay. Chúng tôi tin rằng rồi đây Phật giáo ở Tây Thiên sẽ phát triển theo chiều hướng này.

Nếu công trình “Việt Nam Hộ Quốc Phật Đài” được hoàn thành, thì TVTLTT trở thành một điểm du lịch văn hoá tâm linh, cho khách hành hương tham quan trong và ngoài nước. Thiền viện sẽ góp phần làm phát triển kinh tế cho địa phương. Ngoài việc để lại cho thế hệ mai sau một công trình Văn hoá mỹ thuật Phật giáo, nó còn tôn vinh phần phi vật thể của khu Di tích Danh Thắng Tây Thiên. Có lẽ do vậy mà Thiền phái Trúc Lâm được chư Tổ trợ duyên về Tây Thiên, để xiển dương chính pháp Trúc Lâm, để tôn vinh giá trị văn hoá tâm linh của dân tộc, hay tinh thần của Thiền Tông Việt Nam. Qua đó góp phần xây dựng nền đức lý cho xã hội, ở thời kỳ đất nước mở cửa hội nhập với năm châu. Trên cơ sở đó, khi giao lưu văn hoá với các nước, vẫn bảo tồn và phát huy được bản săc văn hoá dân tộc.

(Theo thienvientuequang.org)


 

Bình luận từ Facebook

Phản hồi

Bài viết khác